ĐÁ XÂY DỰNG GỒM NHỮNG LOẠI NÀO? BÁO GIÁ MÁY NGHIỀN ĐÁ XÂY DỰNG CÁC LOẠI 0973905492

cone 2
dy chuyn may 2
my 150 bnh thun 5
Trang chủ»Hạng mục, Công trình»Tin tức»ĐÁ XÂY DỰNG GỒM NHỮNG LOẠI NÀO? BÁO GIÁ MÁY NGHIỀN ĐÁ XÂY DỰNG CÁC LOẠI 0973905492

ĐÁ XÂY DỰNG GỒM NHỮNG LOẠI NÀO? BÁO GIÁ MÁY NGHIỀN ĐÁ XÂY DỰNG CÁC LOẠI 0973905492

 Đá là vật liệu vô cùng phổ biến và có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người từ xa xưa tới bây giờ. Đá xây dựng là một nguyên vật liệu không thể thiếu trong các công trình. Từ công trình lớn đến công trình nhỏ, với ưu điểm là dễ mua, giá thành rẻ và có tính ứng dụng cao. Vậy đá xây dựng là gì?, Tính chất, kích thước của từng loại đá như thế nào?, Loại đá nào được sử dụng thông dụng nhất và làm sao sản xuất ra chúngMời bạn cùng tìm hiểu qua bài viết sau nhé!

I.ĐÁ XÂY DỰNG LÀ GÌ?

- Trong các công trình  mặc dù có sự ra đời của hàng loại các loại vật liệu xây dựng khác nhau. Tuy nhiên thì đá vẫn đang là sự lựa chọn không thể nào thay thế được của đa số tất cả các công trình từ xây dựng nhà cửa, sân bay, cao tốc, nhà ga và các công trình cầu cống khác…..

- Đá xây dựng là:  một loại vật liệu khoáng sản được khai thác từ các mỏ đá tự nhiên, bằng quy trình đập, nghiền, đục, cắt, gọt và phân loại theo kích thước tùy vào mục đích sử dụng như: cấp phối làm cốt liệu bê tông, lát vỉa hè, san lấp mặt bằng, nền đường, xây dựng đê, móng, tường bao….

3333

II.CÁC LOẠI ĐÁ XÂY DỰNG

Căn cứ vào nhiều tiêu chí phân loại đá xây dựng mà chúng ta phân thành 2 nhóm:

Nhóm thứ nhất: Dựa vào tính chất các loại đá, nguồn gốc hình thành và nhóm thứ hai là phân loại theo kích thước.

1.Phân loại theo tính chất đá, nguồn gốc hình thành.

- Đá thiên nhiên có ở khắp mọi nơi trong vỏ trái đất. Đó là những khối khoáng chất chứa một hay nhiều khoáng vật khác nhau. Còn vật liệu đá thiên nhiên thì được chế tạo từ đá thiên nhiên bằng cách gia công cơ học. Do đó tính chất của vật liệu đá thiên nhiên giống tính chất của đá gốc. Điều kiện hình thành, thành phần khoáng vật quyết định cấu trúc, tính chất cơ lý cũng như phạm vi ứng dụng của vật liệu đá thiên nhiên.

- Căn cứ vào điều kiện hình thành và tình trạng địa chát có thể chia đá thiên nhiên làm 3 loại: đá mácma granit, đá trầm tích và đá biến chất.
a. Đá mácma
Đá mácma là do khối silicat nóng chảy từ lòng trái đất xâm nhập lên phần trên của vỏ hoặc phun ra ngoài mặt đất, nguội đi tạo thành. Do vị trí và điều kiện nguội của khối mácma nên cấu tạo và tính chất của chúng cũng khác nhau. Đá mácma được phân ra hai loại: xâm nhập và phún xuất.
- Đá xâm nhập thì ở sâu hơn trong vỏ trái đất, chịu áp lực lớn hơn của các lớp bên trên và nguội dần đi mà thành. Nó có cấu trúc tinh thể lớn, đặc chắc, cường độ cao, ít hút nước. Đá xâm nhập chủ yếu sử dụng trong xây dựng là granit, điôrit, grabô...
- Đá phún xuất được tạo ra từ mácma phun lên trên mặt đất. Do nguội nhanh trong điều kiện nhiệt độ và áp suất thấp, các khoáng không kịp kết tinh, hoặc chỉ là kết tinh được một bộ phận với kích thước tinh thể bé, chưa hoàn chỉnh, đại bộ phận còn tồn tại ở dạng vô định hình. Mặt khác, các chất khí và hơi nước không kịp thoát ra, để lại nhiều lỗ rỗng, làm cho đá nhẹ, có loại nổi trên mặt nước.
- Các khoáng vật tạo đá mácma chủ yếu: Thạch anh, fenspat, mica và khoáng vật mầu xẫm.
Các khoáng vật có các tính chất khác nhau, nên sự có mặt của chúng tạo ra cho đá có những tính chất xây dựng khác nhau cường độ, độ bền vững, khả năng gia công...
* Các loại đá mácma thường dùng trong xây dựng:
- Đá mácma xâm nhập:
+ Granit đá hoa cương là loại đá axit có ở nhiều nơi, chủ yếu do thạch anh, fenspat và một ít mica, có khi còn tạo thành cả amfibon và piroxen. Granit có màu tro nhạt, hồng nhạt hoặc vàng, phần lớn có kết tinh hạt lớn.

ĐÁ GRANIT

 

Granit rất đặc chắc, khối lượng thể tích 2600 - 2700 kg/m3, cường độ nén rất lớn 1200 - 2500kg/cm2, độ hút nước nhỏ dưới 1%, khả năng chống phong hoá rất cao, độ chịu lửa kém, có một số loại có màu sắc đẹp. Đá granit được sử dụng rộng rãi trong xây dựng ốp mặt ngoài nhà và các công trình đặc biệt, nhà công cộng, làm nền móng cầu, cống, đập...
+ Sienit là loại đá trung tính, thành phần khoáng vật chủ yếu là octola, plagiocla, axit, các khoáng vật mầu xẫm amfibôn, pryroxen, biotit, một ít mica, rất ít thạch anh. Sienit màu tro hồng, có cấu trúc toàn tinh đều đặn, khối lượng riêng 2,7 -2,9 g/cm3, khối lượng thể tích 2400 - 2800 kg/m3, cường độ chịu nén 1500 - 2000kg/cm2. Sienit được ứng dụng khá rộng rãi trong xây dựng.
+ Diorit là loại đá trung tính, thành phần chủ yếu là plagiocla trung tính chiếm khoảng ¾, hocblen, augit, biotit, amffibôn và một ít mica và pyroxen. Diorit thường có màu xám, xám lục có xen các vết xẫm và trắng; khối lượng thể tích 2900 - 3300 kg/m3, cường độ chịu nén 2000 - 3500kg/cm2. Diorit dai, chống va chạm tốt, chống phong hoá cao, dễ đánh bóng, nên được sử dụng để làm mặt đường, tấm ốp.
+ Gabrô là loại đá bazơ, thành phần gồm có plagiocla bazơ khoảng 50% và các khoáng vật màu xẫm như pyroxen, amfibon và olivin. Gabro có màu tro xẫm hoặc từ lục thẫm đến đen, đẹp, có thể mài nhẵn, khối lượng thể tích 2900 - 3300 kg/m3, cường độ chịu nén 2000 - 3500kg/cm2. Grabô được sử dụng làm đá dăm, đá tấm để lát mặt đường và ốp trang trí các công trình kiến trúc.
- Đá mácma phún xuất:
+ Diaba có thành phần tương tự garbô, là loại đá trung tính, có kết cấu hạt nhỏ, hạt vừa xen lẫn với kết cấu toàn tinh. Thành phần khoáng vật gồm có fenspat, pyroxen, olivin, màu tro sẫm hoặc lục nhạt, cường độ nén 3000 - 4000 kg/cm2. Đá điaba rất dai, khó mài mòn, được sử dụng chủ yếu làm đá rải đường và làm nguyên liệu đá đúc.
+ Bazan là loại đá bazơ, thành phần khoáng vật giống đá grabô. Chúng có cấu trúc ban tinh hoặc cấu trúc poocfica. Đá bazan là loại đá nặng nhất trong các loại đá mácma, khối lượng thể tích 2900 - 3500 kg/cm3, cường độ chịu nén 1000 - 5000kg/cm2 có loại cường độ đến 8000kg/cm2, rất cứng, giòn, khả năng chống phong hoá cao, rất khó gia công. Đá bazan là loại đá phổ biến nhất trong xây dựng, được sử dụng để lát đường làm cốt liệu bê tông, tấm ốp chống ăn mòn...
+ Andesit là loại đá trung tính. Thành phần của nó gồm plagiocla trung tính, các khoáng vật sẫm mầu ambrifon, pyroxenvà mica; có cấu tạo ẩn tinh và cấu tạo dạng poocfia; có màu tro vàng, hồng, lục. Đá andesit có khả năng hút nước lớn, khối lượng thể tích 2200 ÷ 2700 kg/m3, cường độ chịu nén 1200 – 2400kg/cm2 , chịu được axit nên được dùng để làm vật liệu chống axit.
Ngoài các loại đá đặc chắc ở trên, trong đá mácma phún xuất còn có đá bọt, tup phún xuất, tro và tup dung nham.
+ Tro núi lửa: thưởng ở dạng bột, giống nhau màu xám. Những hạt lớn gọi là cát núi lửa. Đá bọt, là loại thuỷ tinh núi lửa, rất rỗng độ rỗng đến 80% được tạo thành khi dung nham nguội lạnh nhanh trong không khí. Đá bọt có kích thước 5-30mm, khối lượng thể tích 500 kg/m3, độ hút nước thấp vì các lỗ rỗng lớn và kín, hệ số truyền nhiệt nhỏ 0,12 - 0,2 kCal/m.0C.h, cường độ chịu nén 20 - 30kg/cm2. Cát núi lửa, đá bọt được dùng làm cốt liệu cho bê tông nhẹ, còn bột thì làm vật liệu cách nhiệt và bột mài.
+ Tup núi lửa: là loại đá rỗng, được tạo thành do quá trình tự lèn chặt tro núi lửa. Loại tip núi lửa chặt nhất gọi là tơrat.
Tup núi lửa đá bọt cũng như tro núi lửa thường dùng làm phụ gia hoạt tính chịu nước cho chất kết dính vô cơ.
+ Tup dung nham do trọ và cát núi lửa rơi vào trong dung nham nóng chảy sinh ra. Nó là loại đá thuỷ tinh rỗng có màu hồng, tím..., khối lượng thể tích 750 ÷ 1400 kg/m3, cường độ chịu nén 60 - 100kg/cm2 , hệ số dẫn nhiệt trung bình là 0,3 kCal/m.0C.h. Trong xây dựng, tup dung nham được xẻ thành bloc để xây tường, sản xuất đá dăm cho bê tông nhẹ.
b. Đá trầm tích
- Được tạo thành trong điều kiện nhiệt động của vỏ trái đất thay đổi. Các loại đất đá khác nhau do sự tác động của các yếu tố nhiệt độ nước và các tác dụng hoá học mà bị phong hoá, vỡ vụn. Sau đó chúng được gió và nước cuốn đi rồi lắng đọng lại thành từng lớp. Dưới áp lực và trải qua các thời kỳ địa chất chúng được gắn kết lại bằng các chất keo thiên nhiên tạo thành đá trầm tích.
- Do điều kiện tạo thành như vậy nên đá trầm tích có các đặc tính chung là: Có tính phân lớp rõ rệt, chiều dày, màu sắc, thành phần, độ lớn của hạt, độ cứng... của các lớp cũng khác nhau. Cường độ nén theo phương vuông góc với các lớp luôn luôn cao hơn cường độ nén theo phương song song với thớ.
- Đá trầm tích không đặc chắc bằng đá mácma do các chất keo kết thiên nhiên không chèn đầy giữa các hạt hoặc do bản thân các chất keo kết co lại. Vì thế cường độ của đá trầm tích thấp hơn, độ hút nước cao hơn. Một số loại đá trầm tích khi bị hút nước cường độ giảm đi rõ rệt, có khi bị tan rã trong nước.
- Đá trầm tích rất phổ biến, dễ gia công nên được sử dụng khá rộng rãi. Căn cứ vào điều kiện tạo thành đá trầm tích được chia làm 3 loại:
+ Đá trầm tích cơ học: là sản phẩm phong hoá của nhiều loại đá, thành phần khoáng vật rất phức tạp. Có loại hạt rời phân tán như cát sỏi, đất sét; có loại các hạt rời bị gắn với nhau bằng chất gắn kết thiên nhiên như sa thạch, cuội kết.
+ Đá trầm tích hoá học được tạo thành do các chất hoà tan trong nước lắng đọng xuống rồi kết lại. Đặc điểm là hạt rất nhỏ, thành phần khoáng vật tương đối đơn giản và đều hơn đá trầm tích cơ học. Loại này phổ biến nhất là đôlômit, manhezit, túp đá vôi, thạch cao, anhydrit và muối mỏ.
+ Đá trầm tích hữu cơ: được tạo thành do sự tích tụ xác vô cơ của các loại động vật và thực vật sống trong nước biển, nước ngọt. Đó là những loại đá cacbonat và silic khác nhau như đá vôi, đá vôi vỏ sò, đá phấn, đá điatômit và trepen.

 

ĐÁ_TRẦM_TÍCH.jpg

ĐÁ TRẦM TÍCH.


*Các loại đá trầm tích thường dùng trong xây dựng:
- Đá vôi: Thành phần khoáng vật chủ yếu của đá vôi là canxit, ít khi ở dạng tinh khiết, mà thường bị lẫn các tạp chất như silic, đất sét, bitum... Nên nó có màu sắc từ trắng đến màu tro, xanh nhạt, vàng và cả màu hồng xẫm, màu đen.
Đá vôi có độ cứng 3, khối lượng thể tích 1700 ÷ 2600 kg/m3, cường độ chịu nén 1700 ÷ 2600kg/cm2, độ hút nước 0,2 ÷ 0,5%.
Đá vôi nhiều silic có cường độ cao hơn, nhưng giòn và cứng. Đá vôi đôlômit có tính năng cơ học tốt hơn đá vôi thường. Đá vôi chứa nhiều sét lớn hơn 3% thì độ bền nước kém.
Đá vôi không rắn bằng đá granit, nhưng phổ biến hơn, khai thác và gia công dễ dàng hơn, nên được dùng rộng rãi hơn. Đá vôi thường được dùng làm cốt liệu cho bê tông, dùng rải mặt đường ô tô, đường xe lửa, và dùng trong các công trình thuỷ lợi nói chung, cũng như để chế tạo tấm ốp, tấm lát và các cấu kiện kiến trúc khác. Đá vôi là nguyên liệu để sản xuất vôi và xi măng.
- Sa thạch: phần lớn do cát thạch anh keo kết bằng chất keo kết thiên nhiên đất sét, oxyt silic, oxyt sắt, cacbonat canxi mà thành. Trong sa thạch có khi còn chứa fenspat, mica và các hạt khoáng vật khác.
Tuỳ loại keo kết mà sa thạch có các tên gọi tương ứng. Sự keo kết các hạt cát để tạo thành sa thạch trừ sa thạch sét cuội kết hay dăm kết xảy ra do quá trình kết tủa oxyt silic hydroxyt sắt và cacbonat canxi trong các lỗ rỗng giữa các hạt cát, sỏi, là tăng độ chặt. Cường độ của sa thạch phụ thuộc vào chất lượng chất gắn kết sa thạch silic có cường độ cao nhất, khoảng 3000 kg/cm2.
Chất keo kết cũng quyết định màu sắc của sa thạch: sa thạch silic và sa thạch vôi có màu tro nhạt; sa thạch sắt có màu hồng, vàng, nâu, sa thạch sét có màu vàng sẫm.
Trong xây dựng thường dùng sa thạch silic để làm đá dăm cho bê tông và để rải mặt đường.
c. Đá biến chất
Được hình thành từ sự biến tính của đá mácma, đá trầm tích, thậm chí cat từ đá biến chất trẻ, do sự tác động của áp lực, áp suất cao và các chất có hoạt tính hoá học.
Các chất có hoạt tính hoá học thường gặp nhất là nước và axit cacbonic thường xuyên có trong tất cả các loại đất, đá. Tính chất của đá biến chất do tình trạng biến chất và thành phần của đá trước khi biến chất quyết định. Dưới sự tác động của các tác nhân biến chất, các thành phần của đá có thể tái kết tinh ở trạng thái rắn và sắp xếp lại. Tác dụng biến chất không những có thể cải biến cấu trúc của đá mà còn làm thay đổi thành phấn khoáng vật của nó.
Trong quá trình biến chất do tác động của áp lực và sự tải kết tinh nên đá biến chất thường rắn chắc hơn đá trầm tích; nhưng đá biến chất từ đá mácma thì do cấu tạo dạng phiến mà tính chất cơ học của nó kém đá mácma. Đặc điểm nổi bật của phần lớn đá biến chất trừ đá hoa và đá quăczit là quá nửa khoáng vật của nó có cấu tạo dạng lớp song song nhau, dễ tách thành những phiến mỏng.
Các khoáng vật tạo đá biến chất chủ yếu là những khoáng vật nằm trong đá mácma, đá trầm tích và cũng có thể là các khoáng vật đặc biệt chỉ có ở trong các loại đá biến chất dưới sâu.
* Các loại đá biến chất thường dùng trong xây dựng:
- Đá gơnai: đá phiến ma: Đá gơnai là do đá granit tái kết tinh và biến chất dưới tác dụng của áp lực cao. Đó là đá biến chất khu vực, tinh thể hạt thô, cấu tạo dạng phân lớp - trong đó những khoáng vật như thạch anh màu nhạt, fenspat và các khoáng vật màu sẫm, mica xếp lớp xen kẽ nhau trông rất đẹp. Do cấu tạo dạng phân lớp nên cường độ theo các phương khác cũng khác nhau, dễ bị phong hoá và tách lớp. Đá gơnai dùng chủ yếu để làm tấm ốp lòng bờ kênh, lát vỉa hè.

ĐÁ BIẾN CHẤT

 

- Đá hoa: là loại đá biến chất tiếp hay khu vực, do tái kết tinh đá vôi và đá đôlômit dưới tác dụng của nhiệt độ và áp suất cao mà thành. Đá hoa bao gồm những tinh thể lớn hay nhỏ của canxit, thỉnh thoảng có xen các hạt đôlômit liên kết với nhau rất chặt tạo nên.
Đá hoa có nhiều màu sắc như trắng, vàng, hồng, đỏ, đen... xen lẫn những mảnh nhỏ và vân hoa. Cường độ chịu nén 1200 kg/cm2, đôi khi đến 3000kg/cm2, dễ gia công cơ học, dễ mài nhắn và đánh bóng. Đá hoa được dùng làm đá tấm ốp trang trí mặt chính, làm bậc cầu thang, lát sàn nhà, làm cốt liệu cho bê tông, granito.
- Đá quăczit là đá sa thạch tái kết tinh tạo thành. Đá màu trắng đỏ hay tím, chịu phong hoá tốt, cường độ chịu nén khá cao 4000kg/cm2, độ cứng lớn. Đá quăczit được sử dụng để xây trụ cầu, chế tạo tấm ốp, làm đá dăm, đá hộc cho cầu đường, làm nguyên liệu sản xuất vật liệu chịu lửa.
- Diệp thạch sét: có cấu tạo dạng phiến, tạo thành từ sự biến chất của đất sét dưới áp lực cao. Đá màu xám sẫm, ổn định đối với không khí, không bị nước phá hoại và dễ tách thành lớp mỏng. Diệp thạch sét dùng làm vật liệu lợp rất đẹp.

2.Phân loại theo kích thước.

Theo kích thước đá xây dựng các loại gồm có:

a. ĐÁ 0X4

- Đá xây dựng 0x4 hay còn gọi là đá 04. Là loại đá nhỏ hỗn hợp từ đá mi bụi. Có kích thước khoảng 40 mm (hoặc kích cỡ 37,5 mm). Sản phẩm đá 0x4 được sản xuất bằng cách tách ra từ các loại đá khác. 

- Đá xây dựng đá 0x4 thường được dùng làm đá phân phối cho mặt nền đường. Dùng để dặm, vá hoặc làm mới cho mặt đường. Dùng trong san lấp nền móng nhà và một số công trình xây dựng phụ,…

- Đá 0x4 trên thị trường hiện tại có 2 loại. Đó là đá 0x4 xám (đá Bình Dương, đá miền Tây…).

Loại đá thứ 2 là đá 0x4 xanh hay còn gọi là đá Hóa An hoặc đá 0x4 Đồng Nai. Trong đó, đá 0x4 xám (đá 0x4 thường) được sử dụng phổ biến hơn.

b. ĐÁ 1×2

- Đá 1×2 là một trong các loại đá xây dựng được ứng dụng phổ biến trong các công trình xây dựng và dân dụng.

- Đá 1×2 là loại đá có nhiều loại kích cỡ khác nhau như 10×16 mm, 10×22 mm, 10×28 mm. Để sử dụng phù hợp cho từng loại công trình xây dựng.

- Sản phẩm được ứng dụng rộng rãi dùng để đổ sàn bê tông nhà tầng. Nền mặt đường giao thông như quốc lộ, sân bay, khu vực cầu cảng. Và trong các nhà máy trộn bê tông nhựa nóng hoặc bê tông tươi…

- Đá 1×2 là loại đá được tách ra từ các sản phẩm đá khác. Bao gồm các chủng loại đá 1×2 xanh và đá 1×2 đen. Trong đó, đá đen 1×2 được sử dụng nhiều hơn vì có giá thành thấp hơn.

ĐA 1ĐA 123

c. ĐÁ 3×4

Đá xây dựng 3×4 là loại sản phẩm đá có kích thước khoảng từ 30 mm đến 40 mm. Tùy vào nhiều sử dụng mục đích khác nhau, đá 3×4 cũng được sử dụng nhiều ở các công trình xây dựng khác nhau như đá xây dựng nhà, đá xây dựng công trình mặt đường,…

Đá có thể sử dụng để đổ sàn bê tông, nền mặt đường, khu vực cầu cảng,…

d. ĐÁ 4×6

Đá 4×6 là loại đá có kích thước 40 mm đến 60 mm (hoặc 50 mm đến 70 mm). Lọai đá này được sàng tách từ các sản phẩm đá khác.

Công dụng chủ yếu của đá 4×6 là cốt nền móng, lót nền, kè móng. Hoặc phụ gia các loại vật liệu vây dựng khác

Đá xây dựng 4×6 được sử dụng ở hầu hết các công trình xây dựng hiện nay. Kèm với đá 4×6 thường có cát san lấp, đá 0x4, ngoài ra còn có nhiều loại vật liệu xây dựng khác, tùy vào mục đích sử dụng.

e. ĐÁ 5×7

Đá xây dựng 5×7 là loại đá được sản xuất bằng cách tách ra từ các sản phẩm đá khác. Đá 5×7 có kích cỡ 50×70 mm.

Công dụng chủ yếu của đá 5×7 cũng tương tự như đá 4×6. Là làm chân đế gạch bông, gạch lót sàn. Phụ gia cho công nghệ bê tông đúc ống cống. Và thi công các công trình giao thông và phụ gia cho các loại vật liệu xây dựng khác. Tùy thuộc vào từng mục đích khác nhau người ta mới sử dụng loại đá khác nhau.

f. ĐÁ MI SÀNG

- Đá mi sàng là mạt đá có kích cỡ khoảng từ 3 mm đến 14 mm. Đá mi sàng là sản phẩm đá phụ được tạo ra trong quá trình chế biến các sản phẩm đá 1×1, đá 1×2 hay đá 2×3, đá 4×6.

- Đây là sản phẩm đá nhỏ nhất trong tất cả các loại đá được sàng tách từ đá mi bụi. Với cái tên khác là đá 0x5, đá mi sàng là một trong những loại vật liệu xây dựng được sử dụng phổ biến hiện nay. Khi được ứng dụng nhiều trong các công trình khác nhau.

- Với những đặc điểm trên, đá mi sàng được dùng để làm chân đế gạch bông, gạch lót sàn, phụ gia cho công nghệ bê tông đúc ống cống. Và thi công các công trình giao thông. Phụ gia cho các vật liệu xây dựng khác.

Ngoài ra, đá mi sàng còn là thành phần của bê tông nhựa nóng và nhựa nguội, có thể rải trực tiếp lên mặt nhựa nóng. Dùng để làm gạch block, gạch táp lô, làm tấm đan bê tông, rải nền đường, nền nhà, san lấp mặt bằng các công trình xây dựng.

g. ĐÁ MI BỤI

- Đá mi bụi là các mạt đá có kích thước nhỏ hơn 5 mm. Trong quá trình chế biến các loại đá 1×1 và đá 1×2. Trải qua quá trình sàng tách cho ra sản phẩm cuối cùng với cái tên đá mi bụi. Ngoài ra, loại đá này này còn có tên gọi khác là bột đá.

- Ưu điểm của đá mi bụi là khi sàng với mức độ lọt sàng nhỏ nhất. Sẽ được lớp đá mi bụi mịn, bóng. Và loại sản phẩm đá này có thể thay thế cát giúp xây dựng các công trình đẹp và bền chắc.

- Với những đặc điểm và tính năng trên, đá mi bụi là vật liệu xây dựng được ứng dụng rất nhiều trong các công trình xây dựng. Có thể kể đến như dùng làm chân đế gạch bông, gạch lót sàn, phụ gia cho công nghệ bê tông đúc ống cống. Thi công các công trình giao thông và phụ gia cho các loại vật liệu xây dựng khác. Cụ thể:

+ Đá mi bụi được dùng để tạo nên bê tông nhựa nóng và nhựa nguội. Sử dụng đá mi bụi có thể rải trực tiếp lên mặt nhựa bóng.

+ Một trong những thành phần chính của gạch không nung, hay còn gọi là gạch block là đá mi bụi

+ Bên cạnh đó, đá mi bụi cũng được sử dụng để làm tấm đan bê tông, rải nền đường, san lấp các công trình…

iii. đá nào được sử dụng phổ biến và để sản xuất ra đá cần những máy gì?

Tất cả các loại đá đều được dùng trong xây dựng, tùy vào tính chất các loại đá mà được ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau. Về kích thước thì các loại đá từ đá 1x2, đá 2x4 hay đá 4x6 đến các loại đá 0x5, mi sàng, mi bụi…dùng trong san lấp, đổ nền đều có thể sản xuất được từ các loại thiết bị nghiền công nghiệp như máy nghiền đá. Trong tất cả cá loại đá thì Đá 1x2 - loại đá có sản lượng tiêu thụ lớn vì tính thông dụng của nó.

đá 4

Để sản xuất ra đá với các kích thước trên thì cần một dây chuyền máy nghiền đá, thành phần chính của dây chuyền nghiền đá đó cơ bản gồm:

- Phễu cấp liệu, máy cấp liệu, máy nghiền hàm, máy nghiền côn, hệ thống băng tải vận chuyển, hệ thống sàng phân loại. Tuy nhiên vào từng trường hợp cụ thể mà số lượng các máy chính có thể tăng lên phụ thuộc vào công suất, mô hình thực tiễn cụ thể.  Một dây chuyền máy nghiền đá có thể đồng thời cho ra các kích thước đá khác nhau cùng một lúc.Tùy vào nhu cầu mà bạn hoàn toàn có thể chọn kích thước sản phẩm theo mong muốn.

dây chuyền máy nghiền sàng đá 300-350

- Ví dụ: Dây chuyền nghiền mà bạn muốn mua là Máy nghiền đá 1x2, được dùng để sản xuất ra thành phẩm chính là đá 1x2. Tuy nhiên trong quá trình sản xuất chúng ta vẫn có thể thu được các loại đá xây dựng khác như đá 4x6, đá 2x4, đá mi,... bằng cách thay đổi lớp lưới sàng của sàng rung phân loại.

  »Quy trình sản xuất ra đá 1x2 

IV. BÁO GIÁ dây chuyền máy nghiền ĐÁ XÂY DỰNG 2022 

- Đá xây dựng hiện nay đang là vấn đề được rất nhiều người quan tâm, khi mà các công trình sân bay, cầu đường, bến cảng, cao tốc bắc nam đã được chính phủ phê duyệt và bắt đầu triền khai. Với nhu cầu ngày càng cao cũng như mong muốn đáp ứng tất cả các nhu cầu đó mà các mỏ đá thường chọn nghiền theo dây chuyền và cho ra lượng sản phẩm đa dạng hơn bằng cách sử dụng kết hợp các thiết bị nghiền đá 1 cách nhịp nhàng, tạo nên công suất nghiền cực kì lớn.

dây chuyên may 2

- Công ty TNHH TMDV Cơ Khí Tuấn Phát cung cấp đầy đủ các dây chuyền máy nghiền đá, máy nghiền cát nhân tạo, máy nghiền than đá, sàng tuyển quặng… đầy đủ công suất từ 40 tấn/giờ, 100 tấn/giờ, 150 tấn/giờ, 200 tấn/giờ hay các dây chuyền nghiền công suất cao như 250 tấn/giờ, 350 tấn/giờ, 450 tấn/giờ, 600,800 tấn/giờ..v.v. Nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu thêm có thể liên hệ với chúng tôi. Chúng tôi có thể tư vấn báo giá chi tiết cho bạn dây chuyền máy nghiền phù hợp nhất với chi phí rẻ nhất có thể!!!

LIÊN HỆ VỚI TUẤN PHÁT ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ PHỤC VỤ!!!!

Thông tin liên hệ:

Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Cơ Khí Tuấn Phát.

Địa chỉ: 25/4B Quốc Lộ 1K, Tân Đông Hiệp, Dĩ An, Bình Dương.

Hotline: 0989 942 972 - 0973 905 492.

Website: https://thietbikhaithacdatuanphat.com

BÀI VIẾT LIÊN QUAN:

> Những loại đá nào có thể sản xuất ra cát, quy trình sản xuất cát nhân tạo như thế nào?

> Tính chất các loại đá xây dựng và một số loại máy nghiền đá phổ biến hiện nay.

Quy trình khai thác và sản xuất đá 1×2, đá 2×4, đá 4×6…

DÂY CHUYỀN MÁY NGHIỀN SÀNG ĐÁ để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất nên lắp kèm hệ thống máy nghiền cát nhân tạo.

Máy nghiền đá xây dựng và 3 vấn đề cần quan tâm khi lắp đặt.

Những lưu ý khi lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng máy nghiền cát nhân tạo.

Lợi ích không ngờ của việc bảo dưỡng máy móc định kỳ???

 

Liên hệ

CÔNG TY TNHH TM DV CƠ KHÍ TUẤN PHÁT

MST: 3700876260

- VP Bình Dương: 25/4B Quốc Lộ 1K, Kp.Tân An, P.Tân Đông Hiệp, Dĩ An, Bình Dương.
Hotline: 0973 905 492 - 0975 665 797
- CN VP Hà Tĩnh: Số 16, Hoàng Xuân Hãn, P. Bắc Hồng, TX. Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh.
Hotline: 0989 942 972.
Email : tuanphatbd@gmail.com 
 
 facebook zalo  YOU TUBE
 
 

Bản đồ